GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU GỖ VÀ SẢN PHẨM GỖ CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI

Ngành gỗ là một trong những ngành chịu ảnh hưởng trực tiếp từ đại dịch Covid – 19. Xuất khẩu bị gián đoạn do các nước đối tác trì hoãn nhập khẩu bởi dịch bệnh, các đơn hàng  bị hủy hoặc giãn thời gian giao hàng. Nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn, tuy nhiên nhờ những nỗ lực của Chính phủ, các bộ, ngành với hàng loạt giải pháp ứng phó dịch Covid-19 hiệu quả, cùng với nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp, hoạt động xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ vẫn đạt được những kết quả tích cực trong năm 2020, đóng góp chung vào đà tăng trưởng của cả nước.

1. Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ

Theo báo cáo xuất nhập khẩu Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ (G&SPG) của Việt Nam trong năm 2020 đạt 12,37 tỷ USD, tăng 16,2% so với năm 2019. Riêng đối với các mặt hàng sản phẩm đồ gỗ đạt kim ngạch 9,54 tỷ USD, tăng 22,5% so với năm 2019 chiếm 77,2% tổng kim ngạch xuất khẩu G&SPG, tăng so với tỷ trọng 73,7% của năm 2019.

Năm 2020, xuất khẩu G&SPG vươn lên đứng thứ 6 về kim ngạch xuất khẩu hàng hóa/nhóm hàng hóa của Việt Nam. Có thể khẳng định đây là năm kỳ tích của hoạt động xuất khẩu G&SPG của Việt Nam trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy giảm, hoạt động xuất khẩu hàng hóa gặp rất nhiều khó khăn.

Về thị trường xuất khẩu: Việt Nam xuất khẩu G&SPG chủ yếu sang các thị trường Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và EU-27. Kim ngạch xuất khẩu sang năm thị trường trọng điểm này đạt 10,78 tỷ USD trong năm 2020, tăng 19% so với năm 2019, chiếm 89,7% tổng kim ngạch xuất khẩu G&SPG. Trong đó, Hoa Kỳ là thị trường lớn nhất và ghi nhận mức tăng trưởng cao nhất trong số các thị trường xuất khẩu G&SPG chủ lực của Việt Nam đạt 6,98 tỷ USD, tăng 36% so với năm 2019; chiếm tới 58% tổng kim ngạch xuất khẩu G&SPG của Việt Nam. Bên cạnh đó, kim ngạch xuất khẩu G&SPG sang thị trường Canada, Thái Lan có mức tăng trưởng khá lần lượt tăng là 15%, 23% so với năm 2019 và tăng nhẹ tại thị trường Hàn Quốc, tăng 2% so với năm 2019. Ngược lại, giảm mạnh tại một số thị trường Anh, Ấn Độ, Indonesia, và giảm nhẹ tại một số thị trường như Nhật Bản, Trung Quốc, EU-27, giảm lần lượt là -3%, -4% và -5% so với năm 2019.

Bảng 1. Thị phần XK G&SPG của Việt Nam năm 2020

Thị trường Thị phần XK G&SPG (%)
Mỹ 58
Nhật Bản 11
Trung Quốc 10
Eu- 27 4
Hàn Quốc 7
Úc 1
Canada 2
Anh 2
Khác 5
Tổng 100

Nguồn: VIFOREST, FPA Bình Định, HAWA, BIFA và Forest Trends tổng hợp từ nguồn số liệu thống kê xuất nhập khẩu của Tổng cục Hải quan

Bảng 2. Thị trường XK G&SPG của Việt Nam năm 2019-2020

Đơn vị:  USD

Thị trường 2019 2020 So 2020/2019
Mỹ 5.125.856.324 6.976.392.746 36%
Nhật Bản 1.308.214.808 1.266.559.407 -3%
Trung Quốc 1.227.120.281 1.182.121.493 -4%
EU_27 562.718.941 536.690.436 -5%
Hàn Quốc 801.951.523 816.741.385 2%
Úc 138.903.321 159.085.119 15%
Canada 186.826.071 215.684.625 15%
Hong Kong 3.837.376 9.566.202 149%
Ấn Độ 36.127.109 25.000.154 -31%
Đài Loan 71.402.229 69.692.192 -2%
Malaysia 67.913.814 75.492.233 11%
Anh 301.870.946 222.245.370 -26%
Thái Lan 41.438.802 50.838.597 23%
Indonesia 79.625.514 13.080.928 -84%
Philippines 15.349.058 10.659.367 -31%
TT khác 361.354.859 384.007.907 6%

Nguồn: VIFOREST, FPA Bình Định, HAWA, BIFA và Forest Trends tổng hợp từ nguồn số liệu thống kê xuất nhập khẩu của Tổng cục Hải quan

Mặt hàng xuất khẩu: Các mặt hàng gỗ có giá trị xuất khẩu cao trong năm 2020 gồm: dăm gỗ; viên nén; ván bóc; ván dăm; ván sợi; gỗ dán/ván ghép; ghế ngồi; đồ gỗ. Trong số này ván bóc là mặt hàng ghi nhận tăng cao 94% về lượng và 51% về giá trị, tiếp theo là mặt hàng ghế ngồi tăng 32% về giá trị xuất khẩu, mặt hàng đồ gỗ tăng 22% về giá trị so với năm 2019. Giá trị và lượng xuất khẩu của một số mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ năm 2019-2020 như sau:

Bảng 3: Các mặt hàng xuất khẩu G&SGP của Việt Nam trong năm 2019-2020

Đơn vị:(USD)

Mặt hàng Đơn vị 2019 2020 So 2019/2020
Dăm gỗ TAN 12.021.921 11.607.583 -3%
USD 1.687.327.066 1.487.925.901 -12%
Viên nén TAN 2.791.391 3.207.472 15%
USD 311.082.930 352.037.059 13%
Ván bóc TAN 358.280 694.236 94%
USD 53.944.094 81.692.372 51%
Ván dăm TAN 55.250 39.769 -28%
USD 11.272.189 9.500.938 -16 %
Ván sợi TAN 154.350 111.122 -28%
USD 45.994.051 45.748.652 -1%
Gỗ dán/
gỗ ghép
TAN 2.099.582 2.096.006 -0.2%
USD 712.513.574 719.411.147 1%
Ghế ngồi USD 2.021.054.540 2.670.866.667 32%
Đồ gỗ USD 4.814.940.719 5.879.158.325 22%
SP khác USD 672.381.812 767.517.100 14%

Nguồn: VIFOREST, FPA Bình Định, HAWA, BIFA và Forest Trends tổng hợp từ nguồn số liệu thống kê xuất nhập khẩu của Tổng cục Hải quan

Mặc dù đại dịch COVID-19 bùng phát mạnh, tác động nghiêm trọng đến ngành công nghiệp chế biến, xuất khẩu gỗ, nhưng ngành này vẫn nỗ lực vượt qua, duy trì ổn định sản xuất, đạt được mức tăng trưởng mạnh là nhờ công đóng góp lớn của các doanh nghiệp, doanh nhân, chủ rừng và nhà quản lý trong toàn ngành luôn luôn sáng tạo, nghiên cứu thay đổi nhiều phương thức và hình thức tiếp thị, bán hàng để mở rộng thị trường. Các doanh nghiệp, hiệp hội trong ngành đã nỗ lực tìm kiếm những cách làm, hướng đi cho mình dù đại dịch vẫn còn diễn biến phức tạp. Thay vì chỉ biết đến qua các kênh bán hàng trực tiếp, quảng bá hàng qua các hội chợ, các doanh nghiệp, hiệp hội đã nhanh chóng chủ động chuyển sang hình thức bán hàng trực tuyến.

Bên cạnh đó, cùng với sự quan tâm của cả hệ thống chính trị, Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu G&SPG vượt qua khó khăn do bị ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 như: Thông tư số 01/2020/TT-NHNN của Ngân hành Nhà nước ngày 13/3/ 2020 cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ; Nghị định số 41/2020/NĐ-CP của chính phủ ngày 8/4/2020 gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất; Nghị quyết số 42/NQ-CP của chính phủ ngày 9/4/2020 và Quyết định số 15/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 24/4/2020 về các biện pháp và chính sách hỗ trợ người lao động bị mất việc.

Những chính sách trên đã hỗ trợ kịp thời cho các doanh nghiệp, người lao động ngành chế biến G& SPG vượt qua khó khăn, khôi phục và ổn định sản xuất trong thời gian ảnh hưởng do dịch bệnh, tạo thêm động lực để ngành xuất khẩu gỗ cán đích trong năm 2020. Cùng với các chính sách hỗ trợ của Chính phủ, các Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới như: CPTPP, EVFTA và Hiệp định RCEP cũng góp phần đưa ngành gỗ Việt Nam  đạt tốc độ tăng trưởng nhanh trong thời gian qua.

Có thể nói, năm 2020 là một năm thành công đối với ngành chế biến, xuất khẩu gỗ đạt được mức tăng trưởng ấn tượng, là điểm sáng trong bức tranh xuất khẩu của nước ta.

2. Cơ hội và thách thức trong thời gian tới

* Cơ hội

Để giữ vững đà tăng trưởng trong năm 2020 và đẩy mạnh xuất khẩu G&SPG hơn nữa trong năm 2021 và các năm tiếp theo, các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu G&SPG cần nắm bắt và tận dụng tốt mọi cơ hội. Cụ thể:

+ Các doanh nghiệp cần phải nắm bắt, tận dụng tối đa lợi ích từ các FTA mang lại, nhất là tập trung khai thác một số FTA vừa được ký giữa Việt Nam với một số thị trường, tiếp tục tìm kiếm các thị trường mới nổi, tiềm năng, đa dạng hóa thị trường.

+ Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, cần tập trung vào các mặt hàng chủ lực có tiềm năng phát triển mang lại trị giá cao như các mặt hàng đồ nội thất bằng gỗ.

+ Triển khai các chương trình quảng bá liên tục, mới mẻ và hấp dẫn nhằm củng cố nhận diện và nâng cao hình ảnh, thương hiệu sản phẩm; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, phát triển thương mại điện tử và tăng cường xuất khẩu hàng qua hệ thống mạng lưới phân phối của các tập đoàn bán lẻ nước ngoài; chủ động nghiên cứu thị trường và đáp ứng các tiêu chuẩn hàng rào kỹ thuật khắt khe nhất.

Ngoài việc nắm bắt và tận dụng tốt mọi cơ hội, triển vọng xuất khẩu của ngành gỗ trong năm 2021 cũng rất khả quan nhờ nhu cầu tăng từ các thị trường tiêu thụ chính, đặc biệt là thị trường Hoa Kỳ. Căng thẳng thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc chưa có hồi kết. Sự gián đoạn trong sản xuất và xuất khẩu đồ nội thất tại các thị trường  chính do ảnh hưởng từ dịch Covid-19.

Các Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới có mức độ cam kết cao giúp doanh nghiệp gỗ Việt Nam tiếp cận với nhiều khách trên toàn cầu.

+ Đối với thị trường Hoa Kỳ, xuất khẩu G&SPG sang thị trường này luôn chiếm tỷ trọng cao. Năm 2020 là năm đầu tiên Việt Nam vượt Trung Quốc trở thành thị trường cung cấp đồ nội thất bằng gỗ lớn nhất cho Hoa Kỳ. Trong năm 2021, thị trường Hoa Kỳ đang đối mặt với tình trạng khan hiếm nhà ở. Vì vậy, theo dự báo từ Hiệp hội Ngân hàng Thế chấp (MBA) Hoa Kỳ, năm 2021 thị trường nhà ở gia đình tại Hoa Kỳ đạt khoảng 1,134 triệu ngôi nhà. Năm 2020 đạt 1,165 triệu ngôi nhà và năm 2023 đạt 1,210 triệu ngôi nhà. Sự tăng trưởng mạnh thị trường nhà ở sẽ kéo theo nhu cầu tiêu thụ lớn đối với đồ nội thất tại Hoa Kỳ trong những năm tới.

+ Trung Quốc là thị trường cung cấp lớn đồ nội thất bằng gỗ cho Hoa Kỳ, nhưng bị tác động bởi hàng rào thuế quan cao mà Hoa Kỳ áp đặt nên thị phần nhập khẩu của Hoa Kỳ từ Trung Quốc giảm mạnh.

+ Các quốc gia sản xuất đồ nội thất lớn tại EU như Italia, Đức, Ba Lan đều bị gián đoạn sản xuất do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, trong khi đó nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng này tại khu vực EU rất lớn. Đây là cơ hội để các thị trường sản xuất đồ nội thất trên thế giới đẩy mạnh xuất khẩu vào EU, trong đó có Việt Nam.

+ Các Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới có mức độ cam kết cao, toàn diện sẽ giúp nâng cao vị thế của Việt Nam trên thế giới, giúp doanh nghiệp gỗ Việt tiệm cận vị trí“mắt xích”quan trọng trong các chuỗi giá trị sản phẩm gỗ hiện có với khách hàng toàn cầu, tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực đến người mua hàng tiềm năng, thúc đẩy tăng xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ giữa Việt Nam và nhiều khu vực, nhiều quốc gia.

+ Các Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới hướng tới việc tạo ra một môi trường kinh doanh cởi mở, thuận lợi, minh bạch cho hoạt động của các doanh nghiệp trong lĩnh vực thương mại, xuất nhập khẩu, dịch vụ, đầu tư sản xuất sản phẩm gỗ. Về thuế suất, các nước ký Hiệp định thường đưa ưu đãi mức thuế nhập khẩu về 0% ngay hoặc trong 4-6 năm cho ngành gỗ Việt Nam; giúp nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm gỗ Việt Nam với sản phẩm từ các nước xuất khẩu gỗ khác.

* Thách thức

Bất chấp Covid- 19, ngành gỗ vẫn tiếp tục duy trì được đà tăng trưởng cao trong 5 tháng đầu năm 2021, xuất khẩu G&SPG ước đạt 6,6 tỷ USD, tăng 61,3% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, xuất khẩu sản phẩm gỗ ước đạt 5,1 tỷ USD, tăng 79,4% so với cùng kỳ năm 2020. Đây là tín hiệu xuất khẩu khả quan đối với ngành gỗ Việt Nam, tuy nhiên  ngành này vẫn còn đối mặt với nhiều  thách thức như:

+ Thương mại toàn cầu thời gian qua mặc dù đã có những tín hiệu khởi sắc nhưng vẫn tiềm ẩn những biến động khó lường khi quan hệ ngoại giao, kinh tế giữa các nền kinh tế lớn đang trở nên căng thẳng. Chiến tranh thương mại giữa các cường quốc và chủ nghĩa bảo hộ mang đến những nguy cơ, tác động tiêu cực đối với xuất khẩu của Việt Nam nói chung và ngành chế biến gỗ nói riêng.

+ Sự gia tăng cạnh tranh của các nước sản xuất chính trên thế giới, cả về giá cả, mẫu mã, chất lượng… cũng như gia tăng đầu tư công nghệ tiên tiến để chế biến gỗ xuất khẩu của các nước ASEAN. Các quốc gia trồng rừng và cung cấp nguyên liệu lớn trong khu vực đã và đang có các chính sách hạn chế, quản lý chặt chẽ việc khai thác và xuất khẩu gỗ nguyên liệu. Để bảo vệ môi trường, dẫn đến việc nhiều nước ban hành quy định về truy xuất nguồn gốc gỗ hợp pháp.

+ Đối với doanh nghiệp ngành gỗ, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu gỗ Việt Nam phần lớn chưa thực sự mạnh, thiếu bền vững (đầu tư dàn trải, quy mô nhỏ, sử dụng nguồn vốn vay, ít có khả năng đầu tư công nghệ và quy trình quản lý chuỗi tiên tiến; chủ yếu là gia công, phụ thuộc nhiều vào đơn đặt hàng, thiết kế cũng như mẫu mã của khách hàng…); Các lợi thế cạnh tranh của Việt Nam (như nhiều nhân công, lao động rẻ) không còn chiếm ưu thế như trước. Đặc biệt, nguồn nguyên liệu vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu, trong khi việc kiểm soát nguồn gốc gỗ nhập khẩu hợp pháp chưa được chặt chẽ.

3. Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu G&SPG

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, để phát huy thế mạnh, tiềm năng và tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, trước mắt, trong năm 2021, ngành xuất khẩu G&SPG sẽ phấn đấu đạt giá trị từ 14,5 tỷ – 15 tỷ USD, tăng khoảng 14-15% so với năm 2020, tạo đà hướng tới con số xuất khẩu 20 tỷ USD vào năm 2025. Để đạt được mục tiêu này, trong thời gian tới, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương cần triển khai một số giải pháp  nhằm thúc đẩy chế biến và xuất khẩu G&SPG.

Thứ nhất, về hoạt động mở rộng thị trường, xúc tiến thương mại, tiếp tục phổ biến lợi ích mà các Hiệp định tự do thương mại thế hệ mới mang lại để hỗ trợ các doanh nghiệp khai thác tối ưu thị trường. Đồng thời, tiếp tục hỗ trợ các doanh nghiệp triển khai hiệu quả các chương trình xúc tiến thương mại để khai thác các thị trường lớn như: Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc cũng như các thị trường mới nổi, tiềm năng khác

Thứ hai, về việc đảm bảo nguyên liệu cho ngành chế biến gỗ: Trong thời gian tới, cần duy trì chính sách nhập khẩu thông thoáng, tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu phục vụ sản xuất, xuất khẩu cũng như có chính sách đảm bảo nguồn nguyên liệu. Theo đó, cần sớm có quy hoạch phát triển nguồn nguyên liệu ổn định cho chế biến gỗ, đồng thời tăng cường trồng rừng nguyên liệu gỗ lớn để đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho ngành chế biến và xuất khẩu gỗ đang tăng trưởng cao; xem xét việc miễn kiểm dịch thực vật đối với gỗ tròn, gỗ xẻ nhập khẩu khi các nước xuất khẩu gỗ cho Việt Nam đã có giấy kiểm dịch thực vật để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các doanh nghiệp nhập khẩu. Ngoài ra, kiểm soát chặt chẽ gian lận thương mại là vấn đề rất quan trọng với ngành gỗ. Trong đó, Hiệp định Đối tác tự nguyện về thực thi pháp luật lâm nghiệp (VPA/ FLEGT), một bộ phận của EVFTA sẽ tác động rất lớn đến ngành gỗ Việt Nam trong thời gian tới. Vì vây, cần sớm đưa Hiệp định VPA/FLEGT vào thực thi và thực hiện nghiêm túc; thực hiện kiểm soát việc nhập khẩu gỗ thuộc danh mục CITES theo đúng quy định.

Thứ ba, để tăng cường chất lượng nguồn nhân lực cho ngành: Cần bố trí kinh phí cho các chương trình đào tạo nguồn nhân lực của ngành công nghiệp gỗ, xúc tiến thương mại, xây dựng quảng bá thương thiệu ngành gỗ; ưu tiên triển khai các chương trình đào tạo, nâng cao tay nghề, đảm bảo cung ứng nhân lực cho ngành sản xuất, chế biến gỗ; hỗ trợ các trường đại học, cao đẳng, các trường dạy nghề trong việc đào tạo thiết kế nội, ngoại thất.

Thứ tư, nâng cao năng lực cạnh tranh: Tiếp tục theo dõi, đôn đốc cũng như phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, địa phương tập trung triển khai thực hiện hiệu quả các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, khai thác lợi thế hiện có của ngành chế biến gỗ hướng tới đạt được các mục tiêu đề ra tại Quyết định số 1137/QĐ-TTg ngày 03 tháng 8 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Nâng cao năng lực cạnh tranh các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Đồng thời, phối hợp với các Bộ, ngành tăng cường tận dụng cơ hội từ các Hiệp định FTA thông qua đẩy mạnh tổ chức tuyên truyền rộng rãi về ưu đãi FTA, hướng tận dụng và cách tận dụng ưu đãi FTA, hướng dẫn các doanh nghiệp hiểu rõ và nắm được quy tắc xuất xứ của nước nhập khẩu; tổ chức việc cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa theo hướng hiện đại hóa, điện tử hóa, tăng cường triển khai cơ chế tự chứng nhận xuất xứ.

Thứ năm, các địa phương cũng cần tận dụng cơ hội từ các Hiệp định thương mại tự do (FTA) và trên cơ sở lợi thế về điều kiện tự nhiên, lao động, sản xuất tại địa phương để phát triển sản xuất các sản phẩm chủ lực và có kế hoạch thu hút đầu tư vào sản xuất, chế biến các mặt hàng này hướng tới xuất khẩu; có định hướng xuất khẩu phù hợp và cụ thể đối với những mặt hàng xuất khẩu có thế mạnh của địa phương.

Thứ sáu, các Hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp cần tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, sử dụng hiệu quả nguyên liệu, đa dạng hóa sản phẩm, giảm chi phí, giá thành, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; Tăng cường hợp tác, tạo lập và hình thành chuỗi liên kết từ sản xuất nguyên liệu đến xuất khẩu nhằm nâng cao hiệu quả của chuỗi cung ứng, chú trọng xây dựng thương hiệu Việt cho các sản phẩm xuất khẩu; Chủ động triển khai các hoạt động liên kết nhằm tạo khu vực cung ứng, chế biến gỗ tập trung bao gồm cả khu công nghiệp dịch vụ hỗ trợ cho chế biến gỗ; Nắm bắt, tận dụng tối đa lợi ích từ các FTA mang lại, nhất là tập trung khai thác một số FTA vừa được ký giữa Việt Nam với một số thị trường, tiếp tục tìm kiếm các thị trường mới nổi, tiềm năng, đa dạng hóa thị trường./.

Đỗ Thị Bích Thủy

Phòng Thông tin, Thư viện và Xúc tiến Thương mại – VIOIT

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Call Now Button